Con đường tu tập Bát chánh đạo

Nếu chúng ta là người Phật tử, từng học cách tu tập, từng nghe pháp qua những buổi thuyết giảng trực tiếp tại Chùa hoặc qua youtube, thuật ngữ “Bát chánh đạo” không có gì là lạ. Bát chánh đạo là một thuật ngữ chuyên môn trong Phật giáo, nó được biết đến như là kim chỉ nam trên con đường tu tập thành đạo. Nhưng để có được con đường tu tập này, chúng ta phải biết rằng đó chính là sự hi sinh của Đức Phật, Ngài đã trải qua thời gian dài đi sai hướng và rồi cuối cùng nhận ra con đường giác ngộ này.

 

Sự gian truân để tìm ra con đường Bát chánh đạo.

Trước khi có được một lộ trình tu tập đúng hướng như Bát chánh đạo, Đức Phật đã phải qua 6 năm ròng rã tu khổ hạnh cùng với năm anh em Kiều Trần Như. Có thể nói rằng, từ vô lượng kiếp cho đến nay, nếu so với tất cả những người đã từng tu khổ hạnh thì không ai khổ bằng Đức Phật. Có những ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt đậu để sống, từ một người thân thể cường tráng, Đức Phật chỉ còn da bọc xương. Nhưng kết quả Ngài nhận được là gì, có phải là sự giác ngộ, sáng suốt, trí tuệ hay không hay chỉ là sự hành xác? Để rồi Ngài đã tìm ra được con đường Trung đạo. Nhờ vào uống bát sữa của nàng Xu-gia-ta, Đức Phật cảm thấy thể lực được phục hồi trở lại sau 6 năm tu khổ hạnh.

Và cũng nhờ vào bát sữa ấy, Đức Phật nhận ra rằng sự ăn uống bình thường của con người không mang nghĩa tội lỗi. Vì một người đi theo con đường tu tập, những thứ mang tính tham sắc, vô thường hay gây đau khổ cho chúng sinh khác thì họ phải tránh. Chính vì thế, một thời gian dài Đức Phật đã nhịn ăn để tránh những điều tội lỗi đó. Tuy nhiên, sau khi uống bát sữa, thân thể Ngài được hồi phục trở lại, trí tuệ trở nên sáng suốt hơn và Ngài thấy rằng, những thực phẩm như thế không phải là thứ gì đó tội lỗi, chúng ta ăn nó để bồi dưỡng cho cơ thể có được nguồn năng lượng tối thiểu để hoạt động, để suy nghĩ và trí tuệ của chúng ta thông suốt hơn. Thế là Ngài phát hiện ra con đường Trung đạo, Ngài chọn việc thiền định 49 ngày dưới gốc cây bồ đề, và cũng chính nơi đây, Ngài đã đắc đạo.

Con đường Bát chánh đạo là con đường của bậc thánh, là con đường dẫn đến mở mang trí tuệ, dẫn đến chân tâm. Do đó, người quyết định theo học Phật cần phải hiểu rõ về vấn đề này.

 

 

Sự nhầm lẫn thường gặp khi học Phật.

Khi chúng ta đi đến các ngôi Chùa, nhìn lên cổng chùa thường có một bánh xe, bánh xe này được gọi là bánh xe chuyển pháp luân. Vậy hãy thử để ý, bánh xe đó có bao nhiêu nang căm? Câu trả lời nhận được nhiều nhất chính là 8 nang căm và 12 nang căm. Vậy thật ra cái nào mới đúng? Hãy cùng theo dõi tiếp những thông tin được cung cấp ngay sau đây nhé!

Thật ra, Bát chánh đạo là một pháp môn tu tập trong 37 phạm trợ đạo, là đạo đế - con đường để đưa đến giải thoát. Vì vậy, khi nói đến bánh xe chuyển pháp luận, mặc dù là Bát chánh đạo rất quan trọng trong đạo đế nhưng nó không phải là một phần của Tứ đế, do vậy, chúng ta không thể hiểu tám nang căm đó chính là Bát chánh đạo, mà nó là biểu tượng cho con đường tu tập bằng Bát chánh đạo. Nói đến đây, chắc hẳn rất nhiều người đã nhận ra được hướng suy nghĩ và hướng hiểu sai của mình từ trước cho đến nay, có lẽ nhiều người vẫn thường nghĩ rằng, tám nang căm chính là Bát chánh đạo, vì “bát” là tám. Nhưng hôm nay, qua những thông tin này, hi vọng rằng chúng ta có cái nhìn đúng hơn về ý nghĩa của bánh xe luân hồi đó! Là một người học Phật, chúng ta không thể nào hiểu sai về một thuật ngữ cơ bản, về một con đường tu tập là Bát chánh đạo được.

 

Bát chánh đạo là gì?

Định nghĩa chung nhất về Bát chánh đạo có thể hiểu đơn giản như sau: “bát” là tám, “chánh” là chân chính, là những gì đúng đắn còn “đạo” là con đường. Như thế, Bát chánh đạo là tám con đường đúng đắn hướng đến giải thoát.

Chúng ta chỉ là Phật tử tại gia, hiểu về Bát chánh đạo như thế là quá đủ. Chúng ta không cần phải ép buộc bản thân mình tìm hiểu quá sâu về Phật giáo, về những giáo lý của Đức Phật. Chỉ cần những cái căn bản, chúng ta có cái nhìn đúng đăn về nó thì con đường họcđạo của chúng ta sẽ đạt được những quả ngọt tuyệt vời.

Nếu xét về mặt nội dung, Bát chánh đạo bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Tám con đường tu tập này dẫn đến sự thành đạo của một bậc thánh, và về sau, nó được biết đến như là con đường tu tập duy nhất để đạt được sự giác ngộ, giải thoát.

 

Chánh kiến là gì?

Tiếp theo đây, chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt về tám con đường tu tập vừa kể trên để có thêm nhiều cách nhìn nhận, có thêm nhiều hiểu biết về Bát chánh đạo. Đầu tiên chúng ta hãy phân tích và tìm hiểu ý nghĩa của từ “chánh kiến”. Nói một cách nôm na, chánh kiến chính là quan điểm, nhận thức đúng đắn của mỗi con người. Chỉ riêng cách giải thích đơn giản như vậy thôi cũng có nhiều vấn đề để chúng ta suy nghĩ.

Vì chánh kiến là quan điểm đúng đắn của một người. Nhưng ở đời chúng ta thường có câu "chín người mười ý”. Lấy một ví dụ đơn giản, một người bị bệnh hoa mắt, nhìn màu này thì thấy đó là màu kia, nhìn hình con chim trên chiếc rèm, thực chất nó là màu hồng nhưng nói nó là màu đỏ. Đối với chúng ta, chúng ta chắc chắn và mạnh miệng khẳng định rằng người kia nói sai, con chim đó màu hồng chứ không phải màu đỏ. Nhưng nếu so với những người bị bệnh, họ cho rằng chúng ta nói sai. Vậy thật chất là chúng ta sai hay người bệnh sai. Ai cũng có quan điểm của mình, và tùy góc độ khác nhau thì dường như màu hồng hay màu đỏ đều đúng cả. Không có thứ gì tuyệt đối trên cõi đời này, mọi thứ chỉ là tương đối!

Hãy đến một ví dụ khác. Nếu chúng ta thương một ai đó, chúng ta cho rằng mọi thứ liên quan đến người kia đều là tốt. Nhưng liệu rằng suy nghĩ, quan điểm của chúng ta trong tình huống này có phải là chánh kiến hay không. Làm một phép so sánh với ví dụ thứ nhất, cũng là tùy mỗi người đứng ở góc độ khác nhau nhưng những quan điểm ở ví dụ một được coi là chánh kiến, còn quan điểm ở ví dụ thứ hai thì không. Đó là vì trong ví dụ thứ hai, chúng ta đưa ra quan điểm dựa trên sự yêu thương, dựa trên cảm xúc chứ không phải dựa trên trí tuệ. Chỉ những quan điểm nào được đưa ra mà dựa trên sự hiểu biết, trí tuệ thì mới là chánh kiến, điều này người học Phật cần phải nhớ rõ để tránh tráo nhầm những tư tưởng khác nhau trong cuộc sống, đưa ra quan điểm dựa trên cảm xúc để rồi nói đó là chánh kiến của bản thân.

 

Chánh tư duy là gì?

Nghe qua thuật ngữ này, cùng với những gì chúng ta đã hiểu biết được, có lẽ chúng ta cũng đoán được chánh tư duy chính là những suy nghĩ đúng đắn! Vậy làm sao để có tư duy đúng đắn, tư duy đúng đắn dựa trên những gì? Đây quả thật là một dấu chấm hỏi lớn đòi hỏi chúng ta cần có thời gian để tìm hiểu.

Phật pháp đã dạy rằng, nếu những ai tư duy dựa trên dục, sân, ái hay lòng tham lam, ích kỷ thì đó chính là tà tư duy. Một ví dụ nhỏ để chúng ta hiểu hơn về thuật ngữ này. Nếu một hôm nào đó, người đối diện chúng ta nói ra một lời, ngay lúc đó chúng ta nghĩ nó là bình thường nên chúng ta bỏ qua. Nhưng về nhà suy nghĩ lại, suy nghĩ trong lúc sân hận thì chúng ta thấy rằng, tại sao lúc đó chúng ta không đáp trả lại, không phản kháng lại, rõ ràng người kia đang hiềm khích, đang thách thức mình. Chính suy nghĩ đó làm cho chúng ta nóng giận, đó chính là tà tư duy. Cái mà chúng ta nghĩ ra khi chúng ta đang nóng giận một ai đó thì không được xem là một tư duy đúng đắn, nó không phải là cái mà Đức Phật khuyên những người tu tập hướng đến.

Nhưng nếu ngược lại, người kia hiềm khích mình, làm cho mình nóng giận nhưng rồi sau đó, về nhà và suy nghĩ lại. Nếu chúng ta nghĩ rằng có thể do người kia có quá nhiều phiền não trong đầu, có quá nhiều nỗi đau khổ nên mới nói ra những lời như thế. Chúng ta thông cảm cho họ và cảm thấy thương cho những gì họ đã và đang phải trải qua, tự nhiên chúng ta lại không nóng giận nữa. Nếu suy nghĩ được như thế, đó mới chính là chánh tư duy. Người học Phật cần rèn luyện lối suy nghĩ như thế này, chúng ta không nhất thiết phải đôi co, hơn thua với một người đang trong trạng thái đau khổ, họ đã đau khổ thì chúng ta càng phải bao dung, nhịn người một câu nói không làm cho chúng ta trở nên thấp kém trong mắt người đó, mà đó mới chính là cách làm tăng thêm địa vị của chúng ta trong lòng của họ!

Trong cuộc sống này, người thiện và người ác chỉ khác nhau ở hành động mà thôi. Chúng ta không thể kết luận người thiện thì trong đầu họ không nghĩ đến những việc ác, đôi lúc họ vẫn có lòng tham, vẫn sân si, vẫn suy nghĩ thiếu sáng suốt nhưng quan trọng ở chỗ họ chưa hành động ra bên ngoài, đó chỉ mới là ý niệm bên trong nên người ngoài chúng ta không thể nào biết được. Do đó chúng ta gọi những người không hành động ác là người thiện. Trái lại, những người hành động, biểu hiện ra bên ngoài bằng những việc ác thì chúng ta nghĩ ngay họ là người ác. Nói đến đây, chúng ta phải hiểu một điều rằng trong suốt quãng đời chúng ta sống ở thế gian này, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc sân si nổi lên, nên đừng sợ trong đầu chúng ta phát ra những ý niệm không tốt, cái chúng ta cần sợ chúng là ý niệm giác ngộ, nhận thức đúng đắn đến chậm mà thôi. Nghĩa là bất cứ khi nào chúng ta nghĩ xấu, nghĩ đến ý định trả thù, nếu như ý niệm tĩnh giác đến kịp thời thì chúng ta sẽ cảm thấy dịu lại, chúng ta không hành động sai lầm, đó mới là điều mà người Phật tử cần rèn dũa.

 

Chánh ngữ là gì?

Chánh ngữ có thể được hiểu là lời nói chân chính. Ở đây, chúng ta cần hiểu theo hướng mở rộng nghĩa ra, nó bao gồm cả không nói dối, không lừa đảo, lừa gạt người khác. Xã hội ngày nay, không hiếm những vụ lừa đảo lên đến hàng trăm tỷ đồng chỉ nhờ vào những lời nói. Những người như thế, họ dùng lời nói của mình, bằng một tài nghệ thuyết phục đỉnh cao mà đã khiến cho bao nhiêu người mất đi tiền của. Có thể ở kiếp này, họ đã thành công với những gì họ làm, nhưng liệu rằng họ có thành công ở những kiếp sau hay không. Số tiền lớn như thế họ có thể mang theo để dùng cho kiếp sau hay không? Trong Phật giáo, mọi việc đều có mối quan hệ nhân quả.

Chúng ta tu hành, học Phật pháp, chúng ta cảm thấy thương xót cho những người có hoàn cảnh khó khăn ở kiếp này, chúng ta đồng cảm và cảm thấy muốn giúp đỡ họ để họ có cái ăn cái mặc sống qua ngày. Điều đó là không sai, tu hành thì cần từ bi hỷ xả, cần bao dung thương xót chúng sinh trên cõi đời này. Nhưng chúng ta phải hiểu một điều rằng, họ phải sống hoàn cảnh thiếu thốn như thế là bởi vì họ đang phải trả đi những nghiệp ác mà họ đã tạo từ kiếp trước hoặc những kiếp trước. Không có một thượng đế hay một bậc thế tôn nào can thiệp vào chuyện nhân quả được, đó chính là quy luật tất yếu của tự nhiên.

 

Chánh nghiệp là gì?

Chánh nghiệp là hành động chân chính, nó chỉ cho ba nghiệp gồm thân chân chính, khẩu chân chính và ý chân chính. Tuy nhiên, ở đây chánh nghiệp mang ý nghĩa là thân chân chính, bởi ý chân chính nó mang ý nghĩa của chánh tư duy và khẩu chân chính đã mang ý nghĩa của chánh ngữ.

Hành động của thân mà được coi là hành động chân chính khi nó không phải là sát, đạo, dâm. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm là những hành động chân chính căn bản của một người Phật tử. Để có thể đạt đến sự giải thoát, chúng ta cần học theo chánh nghiệp, phải biết giữ mình trước những điều xấu, đây không phải là một điều dễ dàng để thực hiện trên thực tế.

 

Chánh mạng là gì?

Chánh mạng là đời sống chân chính, là cách chúng ta nuôi mạng mình một cách chân chính. Vậy những cách nào được xem là nuôi mạng chân chính? Trong kinh Đức Phật không nói rõ ra những cách nào là chân chính, nhưng Đức Phật lại chỉ ra những cách nuôi mạng được coi là không chân chính, bao gồm buôn bán vũ khí, buôn bán sắc gái, buôn bán thịt, buôn bán chất gây say và bán hòm.

Đối với buôn bán vũ khí, tại sao Đức Phật lại coi đó là tà mạng? Bởi vì đây là cách gián tiếp tạo ra sự chém giết, chiến tranh, chết chóc trong đời sống của chúng sinh. Đối với buôn bán sắc gái, nghĩa là mượn thân xác của người khác để đem đến lợi nhuận cho mình, nếu xét ở góc độ đạo đức thì quả thật là một điều không thể chấp nhận được, và trong kinh Phật cũng vậy, Đức Phật cũng không cho những người Phật tử làm những điều này để nuôi sống chính mình.

Buôn bán thịt cũng được xem là tà mạng. Trong những bài viết khác, chúng ta chắn hẳn biết về nhân quả. Là một người Phật tử, chúng ta không nên phạm giới sát sinh. Nếu chúng ta sinh sống bằng nghề buôn bán thịt, thử hỏi mỗi ngày chúng ta cướp đi sinh mạng của biết bao nhiêu chúng sinh, chúng ta dùng dao cắt xẻ thịt của chúng, phơi bày ra để bán cho người mua, hành động này tàn ác đến cỡ nào, gây đau đớn cho chúng sinh đến cỡ nào! Do vậy, Đức Phật cũng xếp buôn bán thịt chính là một tà mạng.

Buôn bán các chất gây say, trong Đạo Phật xem nó như một nghề sống tà mạng. Các chất gây say bao gồm rượu, bia, ma túy,…Ma túy rất nguy hiểm, nó cướp đi cuộc sống mạnh khỏe của biết bao nhiêu người. Nó làm tan nát gia đình, tan nát cuộc đời của những người thanh niên khỏe mạnh. Chính vì thế, là một người Phật tử, chúng ta cũng không nên nuôi sống bản thân mình bằng những nghề như thế.

 Nhưng đối với hành động bán hòm, nhìn sơ qua chúng ta thấy việc này chẳng có gì là sai, chúng ta không giết hại chúng sinh, không làm đau khổ hay làm hại cuộc đời người khác nhưng Đức Phật vẫn không cho, vì hành động này thiếu lòng từ. Bởi bán hòm là bán cho người chết, hãy thử tưởng tượng, trong một tháng mà chúng ta không bán được cái nào, chúng ta sẽ nghĩ rằng sao không có ai chết hết vậy? Nghĩa là chúng ta luôn mong có người chết để việc buôn bán của mình được đắt. Điều này chúng ta thấy rằng nó cũng là không tốt. Tuy nhiên, Đức Phật rất tinh tế khi liệt kê loại buôn bán này vào những việc được xem là tà mạng, nó chỉ được coi là tà mạng đối với những người đã thọ Bồ Tát giới, còn với những người Phật tử tu hành tại gia, việc này chưa được xem là tà mạng. Nhưng nếu chúng ta tìm được một nghề nào khác để thay thế, để nuôi sống bản thân thì quả thật là một việc đáng được khuyến khích.

 

Chánh tinh tấn là gì?

Chánh tinh tấn là hành động siêng năng, chân chính. Nghĩa là hành động đó phải được lặp đi lặp lại và phải mang một ý nghĩa tốt. Do đó, nếu chúng ta siêng năng với chuyện hại người, với dục lạc, với sân si thì hành động đó gọi là phóng vận chứ không thể gọi là tinh tấn.

Siêng năng chân chính dựa vào tứ chánh cần, bao gồm niệm ác chưa sanh thì đừng phát sanh, niệm ác sanh rồi thì nên đoạn diệt, niệm thiện chưa sanh thì nên phát sanh, niệm thiện sanh rồi thì nên tăng trưởng. Dựa vào tứ chánh cần, một người học Phật hành động hàng ngày một cách hăng say thì gọi đó là chánh tinh tấn.

 

Chánh niệm là gì?

Chánh niệm là gì niệm đưa đến giải thoát, an lạc, đưa đến việc từ bỏ vọng tưởng, từ bỏ tham sân si, ích kỷ. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta cần thực hành chánh niệm, có thể bằng những việc đơn giản như thường xuyên niệm Phật, chúng ta mượn câu niệm Phật để chú tâm vào một việc gì đó, để tránh rất nhiều niệm ác khởi sinh, để tránh nhiều tư duy tà ác trong lòng, để hóa giải thù ác, để được bình an trong tâm hồn.

Thực tế, nhiều người thường hay bị xao nhãng trong lúc niệm Phật, nghĩa là họ đang niệm Phật thì bỗng có một ý niệm nào khác xen vào, chẳng hạn chúng ta chợt nhớ ra không biết cửa sổ đã được đóng lại hay chưa, không biết việc sếp giao cho mình làm và mình làm như vậy đã đúng hay chưa,…Những ý niệm đó bắt đầu khởi lên và cuốn mất đi chánh niệm của chúng ta. Do vậy, có một cách để chúng ta thực hành chánh niệm được hiệu quả hơn, đó là trước khi vào niệm Phật, chúng ta phải tự nhũ với lòng rằng, trong quá trình niệm Phật, dù là ý niệm tốt hay ác phát sinh thì mình cũng coi đó là tà niệm, là vọng niệm và phải tập trung niệm Phật, có như thế thì chúng ta mới có thể tập trung niệm Phật, mới được gọi là chánh niệm.

 

Chánh định là gì?

Có thể nói, chánh định chính là thành quả của một quá trình chánh niệm, là việc tâm mình tĩnh lặng một cách chân chính, hướng đến giác ngộ, giải thoát. Tâm chúng ta lúc này thanh tịnh và phát sinh trí tuệ, được chánh kiến và chánh tư duy soi sáng dẫn đến chánh niệm đúng đắn, từ đó dẫn đến chánh định đúng đắn và phát sinh tuệ giác. Đây là một quá trình rất khó để luyện tập nhưng người Phật tử cần lấy nó làm mục tiêu trong con đường tư tập của mình.

Với những chia sẻ trên đây, chúng ta thấy rằng con đường tu tập quả thật là không dễ. Nhất là khi chúng ta còn quá nhiều nỗi lo toan trong cuộc đời này. Nhưng nếu đã quyết tâm học Phật, việc thực hành Bát chánh đạo là điều cần thiết, chúng ta hãy xem nó là đích đến để đạt được sự giác ngộ, giải thoát.