TỨ DIÊU ĐẾ

Nếu bạn là một người học Phật, chắc hẳn bạn đã từng nghe qua về Tứ diệu đế, bạn cũng hiểu đó chính là chân lý của Đức Phật. Nhưng liệu rằng những gì bạn nghĩ đã đúng hay chưa? Tứ diệu đế có phải là chân lý của Đức Phật hay không? Bài viết hôm nay sẽ giúp bạn đưa ra câu trả lời chính xác cho riêng mình!

Một sự thật khá buồn rằng, hầu hết chúng ta đều hiểu sai về Tứ diệu đế, chúng ta luôn cho rằng tứ diệu đế chính là bốn chân lý nhưng nó không phải như thế, bản thân của Tứ diệu đế là những lời dạy của Đức Phật về chân lý hay nói cách khác, tứ diệu đế chỉ là thuyết minh về những chân lý của Đức Phật mà thôi.

 

Tứ diệu đế được ghi chép ở đâu?

Theo lịch sử Phật Giáo nói rằng, tứ diệu đế được ghi chép trong bộ kinh Sơ chuyển pháp luân – đây là bài kinh đầu tiên mà Đức Phật thuyết pháp sau khi giác ngộ. Ý nghĩa của cái tên “Sơ chuyển pháp luân” chính là nói đến thời điểm ban đầu Đức Phật thuyết pháp, thời điểm Đức Phật giáo hóa chúng sinh lần đầu tiên.

Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rõ rằng, không phải tất cả chúng sinh đều là người đầu tiên được thuyết pháp bởi bài kinh này, mà người thọ nhận bài kinh này đầu tiên chính là năm anh em Kiều Trần Như. Họ là những người đã cùng Đức Phật tu khổ hạnh ròng rã suốt 6 năm trời. Nội dung của bài kinh Sơ chuyển pháp luân thể hiện đầu đủ về ý nghĩa của Tứ diệu đế. Chính vì thế, nếu có cơ hội và nếu bạn muốn hiểu thêm nhiều điều hơn về Tứ diệu đế, đừng bỏ qua bài kinh trên. Nó sẽ giúp bạn hiểu rõ mọi ngốc ngách về Tứ diệu đế.

 

Sơ lược về bài kinh Sơ chuyển pháp luân

Mở đầu bài kinh là một lời dạy hết sức uyên bác và đầy ý nghĩa. Đức Phật đã nói rằng “Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người tu hành cần từ bỏ, thứ nhất chính là niềm đam mê dục lạc, thấp kém, phàm phu không đem đến sự giải thoát. Thứ hai chính là khổ hạnh, ép xác cũng không thể giúp người tu thành đạo. Này các Tỳ kheo, ta đã tìm ra được con đường Trung đạo…” Lời dạy của Đức Phật trong bài kinh đầu tiên mà Ngài thuyết pháp làm chúng ta phải suy nghĩ!

Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi là, tại sao Đức Phật không thuyết pháp liền mà trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp, Ngài phải nói cho các thầy Tỳ kheo đương thời về hai cực đoan cần phải từ bỏ? Là một người học Phật, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra được lý do vì sao Đức Phật lại khuyên các thầy Tỳ kheo từ bỏ cực đoan thứ nhất, vì tu chính là không màng đến những dục vọng bên ngoài xã hội, là một con đường sống nhẹ nhàng, không chạy theo những thứ vô thường ở đời. Vậy còn cực đoan thứ hai, tại sao tu khổ hạnh nhưng lại không giúp chúng ta thành đạo?

 

Con đường khó đi mà Đức Phật từng khuyên chúng ta từ bỏ

Thông thường, con người chúng ta thường rất ngưỡng mộ những người có chế độ ăn uống khổ hạnh hay ép xác, chúng ta thấy người này mỗi ngày chỉ ăn một bát cơm với rau thì chúng ta lại nghĩ rằng, người này quả thật là một người đạo Phật, không giết hại chúng sinh, không phạm nghiệp về ăn uống. Hay lâu lâu chúng ta bắt gặp hình ảnh một người suốt ngày chỉ ăn mè, ăn khoai mà không ăn cơm, chúng ta lại bắt đầu ngưỡng mộ người đó. Tại sao họ có thể hay đến thế? Tại sao họ ăn ít như vậy mà vẫn có sức khỏe, phải chăng họ chính là con Phật? Nhưng liệu rằng sự ngưỡng mộ của chúng ta dành cho những người đó là đúng hay chưa. Là một người đã xác định sẽ học Phật, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này đúng với bản chất của nó để những bước đi, những quyết định sau này của chúng ta sẽ không bị sai lệch.

Thật ra, việc có một chế độ sinh hoạt khác thường so với số đông không có gì đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Chắc chắn các bạn cũng biết rằng, Đức Phật đã trải qua một thười gian dài tu khổ hạnh cùng với năm anh em Kiều Trần Như, thời gian đó Đức Phạt đã khổ như thế nào? Có những ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt cơm, đến nỗi một thời gian dài sau khi Đức Phật quyết định tu khổ hạnh, từ một người con trai cường tráng, sức khỏe tốt thì trong kinh lại nói rằng, Đức Phật dùng tay sờ bụng thì đụng da lưng, sờ lưng thì đụng da bụng. Khổ đến nỗi như thế, ép xác như thế nhưng các bạn thấy đó, Đức Phật có giác ngộ được nhờ con đường tu khổ hạnh hay không? Qúa trình tu khổ hạnh lâu dài, ép xác nhưng Đức Phật vẫn chưa giác ngộ, cho đến một hôm khi Ngài không còn sức lực nữa, ngã quỵ bên đường thì có một người mang đến cho Ngài bát sữa, sau khi uống xong thì cơ thể Ngài tỉnh dậy, lúc đó Ngài mới nhận ra rằng con đường tu khổ hạnh không mang đến sự giác ngộ và giải thoát như cách Ngài đã nghĩ trước kia.

Nhưng một điều đáng buồn là, khi Đức Phật nhận ra được con đường tu khổ hạnh không mang đến sự giác ngộ, Ngài bắt đầu tìm đến con đường Trung đạo thì năm anh em Kiều Trần Như – những người đã cùng tu khổ hạnh với Ngài bắt đầu có định kiến và không tôn trọng Ngài như trước. Họ quyết định rời khỏi nơi tu tập và đến một nơi khác để tu. Có nghĩa là, trong suy nghĩ của họ, con đường khổ hạnh vẫn là con đường duy nhất dẫn con người đến cõi giác ngộ, những ai từ bỏ con đường này thì không xứng đáng để họ tôn trọng nữa. Định kiến của những người tu hành thời trước khắc khe như thế, chính vì vậy mà sau khi Đức Phật giác ngộ bằng con đường Trung đạo, điều đầu tiên mà Ngài làm trước khi thuyết pháp chính là khuyên mọi người từ bỏ con đường đau khổ đó đi, muốn mọi người nhận ra được chân lý và muốn mọi người đi đúng hướng.

 

Con đường tu tập để thành Phật

Sau lời dạy của Đức Phật về hai cực đoan mà người tu hành cần từ bỏ, Đức Phật bắt đầu thuyết pháp về con đường tu tập để có thể giác ngộ, đó là con đường bát chánh đạo, Đức Phật nói về bốn chân lý trên cuộc đời này – Tứ diệu đế!

Trong đoạn kinh Dấu chân voi có một đoạn như sau: “Trong tất cả dấu chân của các loài động vật thì đều bị nhét vào trong dấu chân voi, vì dấu chân voi là dấu chân lớn nhất nếu so với tất cả các loài động vật. Như vậy, này các thiền giả, tất cả các thiện pháp đều được tập trung trong Tứ diệu đế, Tứ diệu đế bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế”. Đoạn kinh trên có lẽ khiến chúng ta khó hiểu hết nội dung của nó, làm chúng ta hoài nghi và mơ màng về Tứ diệu đế. Do đó, tiếp theo bài viết này sẽ là những lý giải đơn giản về Tứ diệu đế nhằm giúp cho đọc giả có cái nhìn bao quát hơn về một chân lý cơ bản trong Đạo Phật.

Thứ nhất, tìm hiểu về khổ đế. Khởi thủy đầu tiên Đức Phật nói ra trong bài kinh là sự khổ đau, do vậy khi nhắc đến chữ khổ trong khổ đế, người ta thường nghĩ ngay đến đau khổ, nghĩ rằng đạo Phật nói ra mọi thứ đều là khổ đau, họ cho rằng Đạo Phật là bi quan, chán đời. Tuy nhiên liệu rằng suy nghĩ đó có đúng hay không? Chữ “khổ đế” trong đạo Phật không mang ý nghĩa như chúng ta từng suy nghĩ. Bởi đằng sau chữ khổ là “tập, diệt, đạo”, chỉ khi nào khi Đức Phật thuyết pháp mà chỉ nhắc đến mỗi chữ “khổ” thì chúng ta mới có căn cứ cho rằng Đạo Phật là bi quan. Khổ đế của Đức Phật không mang ý nghĩa là than vãn, đó là sự thật. Khi đau ốm chúng ta cảm thấy đau khổ, khi chia lìa người thân chúng ta cảm thấy đau khổ, đó chính là sự thật mà Đức Phật đã nhìn ra được.

Hiểu được khổ đế là gì, chúng ta lại quay sang tìm hiểu về tập đế. Tập đế hay chính là nguyên nhân dẫn đến tất cả những hình thái, cảm xúc của khổ đau. Chúng ta đam mê sắc, đam mê danh vọng, địa vị nhưng không đạt được, chúng ta có khổ không? Con người thường quá tham lam cho mọi thứ, luôn muốn mọi việc đều hoàn thiện, có tâm lý cầu toàn. Nhưng chúng ta quên rằng, chính những cái chúng ta muốn làm cho chúng ta đau khổ. Đôi khi một số lúc trong cuộc sống, chúng ta không thích người này, chúng ta hờn ghét người kia, sân hận, hơn thua, sân si với người khác – đó chính là ái, ái chính là nguyên nhân của khổ đau. Một khi trong lòng còn ái, chúng ta không thể nào thoát được sự khổ đau.

Diệt đế là sự giải thoát, an lạc, bình yên, chấm dứt tất cả mọi phiền não và khổ đau trên cõi đời này. Bằng khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu diệt đế chính là thành quả của quá trình tu tập, đạt đến cứu cánh niết bàn. Đến đây, có lẽ nhiều người vẫn còn mơ hồ, chưa phân biệt được giữa niết bàn và tịnh độ. Hai khái niệm này cần được làm rõ để chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn khi nói về Tứ diệu đế. Khi chúng ta đọc kinh, chúng ta nghĩ rằng những điều về tịnh độ quá hoàn hảo, nó là một thế giới mà hầu như ai học Phật cũng muốn có thể bước chân tới. Tuy nhiên, cách hiểu đó về tịnh độ đôi khi có phần hơi lệch hướng và chính vì thế, nó làm chúng ta cảm thấy có gì đó nhập nhằn khi cùng lúc nhắc tới niết bàn. Tịnh độ và niết bàn chính là trạng thái giác ngộ cuối cùng, là sự giải thoát chấm dứt phiền não. Hai khái niệm này có thể hiểu cùng một nghĩa để chúng ta cảm thấy dễ dàng hơn khi tìm hiểu về Tứ diệu đế.

Chân lý cuối cùng trong Tứ diệu đế chính là đạo đế, đó là một con đường, phương pháp mà Đức Phật đã nói sau khi chỉ ra hai cực đoan mà người tu cần loại bỏ. Con đường đó chính là trung đạo, là con đường thánh đạo tám ngành. Đức Phật đã từng trải qua một thời gian dài tu khổ hạnh nhưng vẫn không nhìn ra được chân lý, cho đến khi Ngài tìm ra được con đường trung đạo. Trong quá trình thực hành tu tập, không phải chúng ta cứ ép xác, khổ hạnh thì mới đạt được mục đích cuối cùng. Chúng ta muốn nhìn ro mọi ngóc ngách của cuộc sống, điều đầu tiên chúng ta cần chú ý chính là hướng tu tập, chúng ta phải có trí tuệ, phải có sức lực thì mọi chuyện mới sáng tỏ. Và con đường tu tập như thế chính là con đường trung đạo.

Với những chia sẻ ngắn gọn trên đây, hi vọng sẽ giúp ích được cho những người đang theo học Phật. Học Phật không phải là chuyện dễ dàng, nhưng sẽ không quá khó nếu chúng ta hiểu được cốt lỗi của Tứ diệu đế. Đây được xem là toàn bộ xương sống của giáo lý Đức Phật. Mọi chân lý khác đều được phát triển lên từu Tứ diệu đế. Do vậy, hiểu được lời dạy của Đức Phật về bốn chân lý trên rất quan trọng, nó sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng để đạt đến sự giác ngộ và giải thoát.